Logo

TIỀM NĂNG VÀ LĨNH VỰC SỬ DỤNG VERMICULIT Ở ĐỚI SÔNG HỒNG VÀ PHAN SI PAN

14/11/2018 In bài viết

ThS.Trịnh Quốc Hà, KS.Dương Đức Lâm, ThS.Doãn Thị Nga,
 ThS.Nguyễn Văn Tuyên (Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm).
 

Tóm tắt: Vermiculit có những đặc điểm nhẹ, xốp, có khả năng chịu nhiệt, cách nhiệt, cách âm, dung lượng trao đổi cation lớn và có tính năng hấp phụ cao, vì vậy, chúng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp và môi trường. Ở Việt Nam, kết quả điều tra đánh giá đã xác định được một số vùng có triển vọng về vermiculit như đới Sông Hồng - Phan Si Pan. Kết quả đánh giá chất lượng và tài nguyên định hướng để khai thác, sử dụng nguồn nguyên liệu khoáng này cần thiết được quan tâm. Bài viết này  trình bài một số đặc điểm quặng vermiculit thuộc đới Sông Hồng và đới Phan Si Pan, đề xuất một số phương pháp tìm kiếm có hiệu quả đã được áp dụng qua thực tế.
I. MỞ ĐẦU
Nguyên liệu khoáng vermiculit được phát hiện đầu tiên vào đầu thế kỷ XX, ngay sau đó chúng được khai thác và sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế quốc dân. Những nước khai thác và sử dụng vermiculit đầu tên là Mỹ (năm 1913), Liên Xô (năm 1932)... Hiện nay, sản lượng khai thác hàng năm trên thế giới khoảng 520 ngàn tấn vermiculit.
Ở Việt Nam, vermiculit được phát hiện lần đầu tiên năm 1980 ở Pa Tần (Lai Châu) liên quan với các mạch minet, sonkinit và Bản Sang (Sơn La) liên quan với các khối siêu mafic thuộc phức hệ xâm nhập Bản Sang - Núi Nưa. Sau năm 2000, với việc phát hiện hàng loạt các điểm quặng vermiculit kiểu vỏ phong hoá phát triển trên các đá biến chất cổ giàu biotit ở đới Sông Hồng, đới Phan Si Pan đã khẳng định ở Tây Bắc Việt Nam có tiềm năng lớn về nguyên liệu vermiculit.
II. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ ĐIỀU KIỆN THÀNH TẠO QUẶNG VERMICULIT
2.1. Khái quát đặc điểm địa chất 
Đặc điểm địa chất hai đới cấu trúc Phan Si Pan và Sông Hồng chủ yếu các đá biến chất có thành phần, cấu trúc rất phức tạp
- Đới Sông Hồng được cấu thành chủ yếu bởi các đá biến chất cổ tướng amphibolit của hệ tầng Núi Con Voi (PPnv), hệ tầng Ngòi Chi (PPnc). Các đá biến chất thuộc các hệ tầng này còn bị biến dạng mạnh mẽ do tác động của các hoạt động kiến tạo đứt gãy, uốn nếp, hoạt động migmatit hoá, ngoài ra còn gặp một vài thể đá mạch pyroxenit, gabropyroxenit chưa rõ tuổi xuyên cắt các thành tạo biến chất của hệ tầng Núi Con Voi và hệ tầng Ngòi Chi, các đá mạch ở đây đều có cấu tạo khối nứt nẻ yếu và không bị migmatit hoá.
Các hoạt động biến chất trong đới Sông Hồng xảy ra mạnh mẽ và nhiều giai đoạn đã tạo thành các dạng cấu tạo nếp uốn, đứt gãy và các đới dập vỡ đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình biến chất trao đổi hình thành các đá biến chất giàu biotit.
- Đới Phan Si Pan được cấu thành bởi các đá biến chất tướng epidot - amphibolit và các đá biến chất giàu biotit của hệ tầng Sin Quyền (PP-MPsq1), các đá gabro amphibolit phức hệ Bảo Hà (Gb/PP-MPbh), granit microclin, granit aplit, pegmatit phức hệ Xóm Giấu (GP/NPxg);
Các đá biến chất tiếp xúc trao đổi giàu biotit Mg - Fe liên quan với gabro amphibolit thuộc phức hệ Bảo Hà bị xuyên cắt bởi granit microclin, granit aplit và pegmatit giàu felspat kali phức hệ Xóm Giấu.
Các thành tạo biến chất thuộc đới Phan Si Pan hoạt động xảy ra mạnh mẽ trong nhiều giai đoạn làm các đá bị biến dạng mạnh tạo thành nếp uốn, đứt gãy và các đới dập vỡ, đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình biến chất trao đổi hình thành các đá biến chất giàu biotit.
2.2. Điều kiện thành tạo đới phong hóa chứa vermiculit
Đặc điểm địa mạo đã xác định được địa hình kiến tạo, địa hình bóc mòn là địa hình rất thuận lợi tạo đới phong hóa chứa vermiculit. Trên dạng địa hình này đới phong hóa phát triển mạnh.
Đặc điểm địa chất: đới Sông Hồng và Phan Si Pan có nhiều các đá biến chất giàu biotit tuổi Proterozoi trải qua quá trình biến chất mạnh mẽ và nhiều giai đoạn.
Đặc điểm khí hậu: đới Sông Hồng và Phan Si Pan nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều. Vì vậy, đới Sông Hồng và đới Phan Si Pan có điều kiện thuận lợi hình thành đới phong hóa và được bảo tồn rất tốt có bề dày rất lớn (thường lớn hơn 10m).
Kết quả nghiên cứu đới phong hóa bằng phương pháp địa vật lý (đo sâu đối xứng) xác định được tham số điện trở suất của tầng phong hóa chứa quặng vermiculit và đá cho thấy những phần có điện trở suất thấp <400Ω.m là tầng phong hóa mạnh từ các đá biến chất trong đó có thân quặng vermiculit, các đới dập vỡ; các đới nứt nẻ chứa nước. Phần có điện trở suất cao >400Ω.m là các đá phong hóa trung bình đến đá tươi cứng chắc.
Bảng kết quả thống kê giá trị điện trở suất
STT Đặc điểm đất đá  Số lượng thống kê Giá trị điện trở suất
Từ (Ωm) Đến (Ωm) Trung bình (Ωm)
1 Tầng phong hóa mạnh Không giữ cấu trúc 13 40 270 100
Giữ được cấu trúc 56 57 392 186
2 Phong hóa trung bình 6 420 500 457
3 Phong hóa yếu đến tươi 6 485 1435 927

 
Quá trình hình thành các thân quặng vermiculit nguồn gốc phong hóa là quá trình hình thành đới phong hóa từ đá biến chất giàu biotit, các đá phiến biotit hornblend, gneis biotit hornblend sẫm màu giàu biotit Mg - Fe thuộc tướng biến chất epidot - amphibolit phân bố chủ yếu trong hệ tầng Suối Chiềng và hệ tầng Sin Quyền (đới Phan Si Pan); đá metamafic (gneis amphibol, amphibolit) bị migmatit hoá thuộc tập 2 hệ tầng Núi Con Voi (đới Sông Hồng) và ít hơn là các đá thuộc tập 2 hệ tầng Suối Chiềng (đới Phan Si Pan); đá gneis amphibol, amphibolit (hệ tầng Suối Chiềng), gabro amphibolit (phức hệ Bảo Hà) với các thể xâm nhập granit microclin, granit aplit và pegmatit giàu felspat kali của phức hệ Xóm Giấu.
Trong môi trường oxy hoá giàu nước lưu thông làm nghèo KOH, tạo điều kiện thuận lợi đối với quá trình hydrat hoá biotit thành vermiculit.
Như vậy, để hình thành đới phong hóa chứa vermiculit cần có những điều kiện sau:
- Đá gốc giàu biotit phân bố trong đới biểu sinh với khối lượng lớn.
- Môi trường phong hoá là môi trường oxy hoá, giàu nước lưu thông mang tính trung hoà đến acit yếu.
- Yếu tố địa hình, địa mạo là điều kiện rất quan trọng đối với sự phát triển và bảo tồn đới phong hóa chứa vermiculit.
2.3. Khái quát về điều kiện thành tạo vermiculit
Quá trình biến đổi flogopit, biotit thành vermiculit thực chất là sự kết hợp giữa quá trình hydrat hoá với sự thay thế của K+ bằng Mg+2 kèm theo quá trình oxy hoá Fe+2 thành Fe+3 và sự hoà tan, mang đi của K+ dưới dạng KOH trong điều kiện bão hoà nước. Tiến trình này xảy ra mạnh mẽ và triệt để trong môi trường oxy hoá, giàu nước lưu thông mang tính trung hoà đến acit yếu. Trong tự nhiên, tiến trình biến đổi biotit thành vermiculit diễn ra một cách thuận lợi, mạnh mẽ trong quá trình phong hoá, đặc biệt là trong quá trình phong hoá xảy ra ở những miền khí hậu nóng ẩm. Còn trong quá trình nhiệt dịch, tiến trình này chỉ xảy ra ở đới nông gần mặt đất trong điều kiện nhiệt độ thấp, dung dịch nhiệt dịch giàu nước.
Quặng vermiculit nguồn gốc phong hóa là sản phẩm phong hoá của đá biến chất trao đổi giàu biotit Mg - Fe phân bố trong nội bộ đới phong hóa. Theo chiều thẳng đứng, hàm lượng vermiculit phân bố có tính phân đới theo mức độ phong hóa, chủ yếu trong tầng phong hoá mạnh giữ cấu trúc. Chiều dày đới phong hóa chủ yếu từ 10m đến 42m, có nơi đến hàng trăm mét.
Quá trình hình thành vermiculit ở khu Phố Ràng
Pyroxen " amphibol " biotit " vermiculit
Biến chất nhiệt động khu vực tướng amphibolit Biến chất trao đổi do migmatit hoá Phong hoá
                 
 
2.4. Đặc điểm phân bố quặng vermiculit
Kết quả nghiên cứu [5] quặng vermiculit phân bố trong đới phong hóa mạnh của đá biến chất trao đổi giàu biotit, loại đá biến chất trao đổi này được hình thành từ đá gneis amphibol, amphibolit bị migmatit hoá, thuộc phần trên phức hệ Núi Con Voi (đới Sông Hồng) và hệ tầng Suối Chiềng, hệ tầng Sin Quyền (đới Phan Si Pan), một số vùng phân bố trong đới tiếp xúc giữa một bên là đá xâm nhập granit, granit aplit, pegmatit thuộc phức hệ Xóm Giấu với bên kia là đá gneis amphibol, amphibolit hệ tầng Suối Chiềng
Năm 2002-2004, trong quá trình thi công đề án "Nghiên cứu triển vọng và khả năng sử dụng vermiculit trên một số diện tích ở đới Sông Hồng và đới Phan Si Pan", TS. Trần Ngọc Thái làm chủ nhiệm đã phát hiện 78 biểu hiện khoáng sản và điểm khoáng hoá vermiculit ở đới Sông Hồng và đới Phan Si Pan.
Vùng Phố Ràng - Bảo Hà : Ở vùng Phố Ràng – Bảo Hà đã phát hiện các các điểm khoáng hóa, điểm quặng vermiculit phân bố trong đới phong hóa mạnh đến trung bình của các đá biến chất giàu biotit thuộc hệ tầng Núi Con Voi, hệ tầng Sin Quyền : Bao gồm các điểm Phố Ràng, Bản Mạ, Làng Phan, Thái Văn, Đèo Bông, Sài Thổ, Làng Bông, Xuân Quang, Mong Mai , Cao Sơn, Nhài Thổ, Ngòi Bon, Sài Đồng, Xóm Tắp, Bảo Hà, Ngòi Bỗng, Cam Cọm, Xóm Hạ. Kết quả nghiên cứu cho thấy vùng Phố Ràng - Bảo Hà có bốn diện tích triển vọng vermiculit (khu Phố Ràng - Bản Mạ ; Thái Văn - Làng Phan ; Sài Thổ - Sài Đồng  và Làng Bông - Xóm Tắp). Tài nguyên dự báo vùng Phố Ràng – Bảo Hà  cấp P = 255.480 tấn vermiculit.
Vùng Tân Hương - Bảo Ái : Đã phát hiện các các điểm khoáng hóa, điểm quặng vermiculit phân bố trong đới phong hóa mạnh đến trung bình của các đá biến chất tướng amphibolit của hệ tầng Núi Con Voi (PPnv) và hệ tầng Ngòi Chi (PPnc): Bao gồm các điểm Làng Bang, Khao Hưng; Ngòi Trang, Khuổi Máy, Phú Khang, Hoà Cuông, Minh Quá, Đèo A, Bảo Ái, Ngòi Dâu, Cẩm Ân, Khe Lao, Ngòi Hóp, Đồng Bưởi, Núi Đá Cháy, Tân Trung. Vùng Tân Hương - Bảo Ái có triển vọng vermiculit.Tài nguyên dự báo vùng Tân Hương – Bảo Ái  cấp P = 215.285 tấn vermiculit.
Vùng Sơn Thuỷ - Tân Thượng : Đã phát hiện các các điểm khoáng hóa, điểm quặng vermiculit phân bố trong đới phong hóa mạnh đến trung bình của các đá biến chất tiếp xúc trao đổi giàu biotit hệ tầng Sin Quyền, được hình thành ở đới tiếp xúc giữa đá gabro amphibolit phức hệ Bảo Hà với các thể xâm nhập granit micrclin phức hệ Xóm Giấu. Bao gồm các điểm ở Sơn Thuỷ (VL196, 198, 199, 200) và ở Tân Thượng (VL202, 203, 206). Tài nguyên dự báo vùng Sơn Thủy - Tân Thượng cấp P = 60.353 tấn vermiculit.
Vùng Thạch Khoán : Đã phát hiện các các điểm khoáng hóa, điểm quặng vermiculit phân bố trong đới phong hóa mạnh đến trung bình của các đá biến chất giàu biotit thuộc Hệ tầng Thạch Khoán tiếp xúc với thể pegmatit phức hệ Tân Phương. Bao gồm các điểm : VL375; VL2909, Hữu Khánh, Đồi Đao. Vùng Thạch Khoán ít có khả năng triển vọng
Vùng Minh Đài – Đông Cửu : Nằm ở phía đông nam đới Phan Si Pan, đã phát hiện các các điểm khoáng hóa, điểm quặng vermiculit phân bố trong đới phong hóa mạnh đến trung bình của các đá metamafic (gneis amphibol, amphibolit, gneis và đá phiến biotit hornblend) hệ tầng Suối Chiềng và hệ tầng Sin Quyền. Thành tạo xâm nhập liên quan với quá trình tạo quặng vermiculit là phức hệ Xóm Giấu. Bao gồm các điểm : Đồng Giang, Xóm Chát, Đồng Khoai, Xóm Ngần, Xóm Bàu, Xóm Vừn. Các thân quặng vermiculit lộ ra dài từ 100m đến 1000m; rộng từ 2m đến 50m; Hệ số thu hồi quặng vermiculit từ 14% đến 46%. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng Minh Đài – Đông Cửu có quy mô lớn, Hệ số thu hồi quặng cao; chất lượng quặng tốt. Đây là vùng rất triển vọng quặng vermiculit.
2.5. Đặc điểm thành phần vật chất và đặc tính vermiculit
Kết quả phân tích Rơnghen nhiễu xạ và Nhiệt định lượng cho thấy thành phần vật chất quặng vermiculit trong vùng như sau:
- Thành phần khoáng vật: vermiculit = 8 - 47%; amphibol = 1- 15%; kaolin = 16 - 38 %; clorit = 4 - 6%; thạch anh = 5 - 10%; feslpat = 4 - 11% ; gơtit = 4 - 8%.
- Thành phần hoá học đơn khoáng vermiclit: SiO2 = 34,8 - 45,5% ; Al2O3 = 16,7 - 18,4%; TFe = 12,1 - 18,3; TiO2 = 1,06 - 4,72%; CaO đến 4,2%; MgO = 4,3 - 10,9%;  MnO đến 0,07%; Na2O đến 0,08%; K2O = 0,59 - 2,8%.
- Kết quả nung nở vermiculit khu Phố Ràng có hệ số nở theo các cấp hạt:
Cấp hạt 1 - 3mm hệ số nở từ 2,3 đến 4 lần
Cấp hạt >3mm hệ số nở từ 7,1 đến 9,8 lần
2.6. Tiền đề địa chất và dấu hiệu tìm kiếm
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu cho thấy quy luật phân bố vermiculit và các yếu tố khống chế đã xác lập các tiền đề địa chất để tìm kiếm quặng vermiculit đới Sông Hồng và đới Phan Si Phan

Tiền đề thạch học- kiến tạo: Cấu trúc vỏ lục địa cổ bị biến chất nhiều chu kỳ với khối lượng lớn các tổ hợp đá thuộc tướng amphibolit bị migmatit hoá, những tiền đề địa chất thuận lợi đối với quá trình hình thành các đá biến chất giàu biotit Mg-Fe.

Tiền đề cấu tạo kiến trúc: Các cấu trúc phức nếp lồi, nếp lồi; các đới đứt gãy, đới dập vỡ kiến tạo. Các cấu trúc này vừa tạo điều kiện để các đá giàu biotit Mg - Fe xuất hiện nhiều lần với khối lượng lớn vừa là điều kiện để quá trình phong hoá phát triển mạnh tạo thành đới phong hóa chứa vermiculit có quy mô lớn.

Tiền đề địa mạo: Các thân quặng vermiculit liên quan chặt chẽ với địa hình, các địa hình đồi bóc mòn, sườn bóc mòn rửa trôi, sườn bóc mòn tổng hợp có độ dốc < 25o và các bề mặt san bằng ở độ cao 300m, đây là địa hình thuận lợi nhất cho việc hình thành vỏ phong hóa chứa vermiculit.

Tiền đề vỏ phong hóa: Các diện tích có địa hình dốc thoải, độ cao trung bình, khí hậu nóng ẩm thuận lợi cho sự hình thành và bảo tồn vỏ phong hóa chứa vermiculit

Sự có mặt đồng thời bốn tiền đề là điều kiện cần và đủ để tìm thấy vermiculit nguồn gốc phong hoá trong đới Sông Hồng và đới Phan Si Phan.

Dấu hiệu

Dấu hiệu trực tiếp:  Các vết lộ ở tầng phong hóa có chứa vermiculit dạng tấm, vảy với màu đặc trưng: nâu cánh gián, xám phớt lục, trắng phớt vàng

Dấu hiệu gián tiếp:

+ Các tảng lăn chứa vermiculit, các biểu hiện vermiculit trong sườn tích hoặc                   trong sản phẩm phong hoá màu nâu đậm.
+ Các tập đá biến chất trao đổi hoặc biến chất tiếp xúc trao đổi giàu biotit; các diện tích lộ đá gneis amphybol, amphybolit bị migmatit hóa.
+ Các diện tích lộ đá gneis biotit hornblend, đá phiến biotit hornblend.
+ Các diện tích lộ đá gneis amphybol, amphybolit đi kèm migmatit.
+ Các dị thường địa vật lý để tìm kiếm vermiculit giá trị điện trở suất thấp (thường nhỏ hơn 400Wm);
2.7. Lĩnh vực sử dụng vermiculit
Đánh giá chất lượng quặng vermiculit
Hiện nay, trên thế giới vermiculit được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực như nông nghiệp, xây dựng  (làm vật liệu cứu hỏa: vật liệu cách nhiệt, cách âm) và các lĩnh vực khác. Theo tài liệu nghiên cứu của Lucke L.Y Chang, các đặc tính của sản phẩm vemiculit sau khi nung nở, sử dụng trong các lĩnh vực công nghiệp được ASTM xác lập cho từng lĩnh vực như sau:
- Sử dụng trong lĩnh vực xây dựng: Sản phẩm vermiculit sau khi nung nở được trộn lẫn với ximăng Portland ở tỉ lệ khác nhau để tạo ra vật liệu có trọng lượng nhẹ, được xem là vật liệu siêu nhẹ.
- Nông nghiệp: Vermiculit được sử dụng trong nông nghiệp vì nó làm tăng độ tơi xốp làm giàu không khí trong đất trồng, có những đặc tính giữ nước tạo ẩm cho đất và cung cấp chất khoáng.
Bảng thống kê thành phần vermiculit thương phẩm các mỏ trên thế giới
Các oxyt Enoree (USA) Louisa (USA) Palabora (Nam Phi) Piaui Eucatex (Brasil)
LiO2   0.01 0.03  
NaO   1.72 0.80 0.10
K2O 4.42 3.63 2.64 0.50
MgO 20.04 16.38 23.37 23.6
CaO 0.75 1.12 1.46 3.8
BaO 0.12      
MnO 0.07 0.14 0.30  
FeO     1.17  
Al2O3 17.36 12.85 12.08 10.2
Cr2O3 0.50 0.23    
Fe2O3 8.45 8.80 5.45 5.80
SiO2 38.66 38.34 39.37 45.10
TiO2   1.66 1.25 0.7
H2O (̣tổng) 8.71 10.66 11.2 10.20
 

III. KẾT LUẬN
Đới Sông Hồng và đới Phan Si Pan là những đới có triển vọng về quặng hóa vermiclit nguồn gốc phong hoá. Đới phong hóa chứa quặng vermiculit là sản phẩm phong hóa từ các đá biến chất giàu biotit Mg-Fe; các đá mafic, siêu mafic được hình thành trong Proterozoi thuộc các đá tập 2 hệ tầng Suối Chiềng và tập 1 hệ tầng Sin Quyền (đới Phan Si Pan); Các đá tập 2 hệ tầng Núi Con Voi (đới Sông Hồng); của đá biến chất tiếp xúc trao đổi  giàu biotit Mg-Fe, được hình thành trong đới tiếp xúc tập 2 hệ tầng Suối Chiềng, gabro amphibolit phức hệ Bảo Hà với các thể xâm nhập granit microclin, granit aplit và pegmatit của phức hệ Xóm Giấu (đới Phan Si Pan).
Quặng vermiculit của đới Sông Hông, đới Phan Si Pan có nguồn gốc phong hóa. Vì vậy, quặng vermiculit không có aspet; Hệ số thu quặng vermiculit khá cao từ 14% đến 64%; Hệ số nở từ 2,5 lần đến 16 lần; Khối lượng thể tích 1,3 kg/l đến 1,9kg/l; Tài nguyên dự báo là vùng có tiềm năng đến rất có tiềm năng.
Về chất lượng quặng vermiculit của đới Sông Hồng, đới Phan Si Pan so sánh chất lượng với một số mỏ trên thế giới có thể khẳng định quặng vermiculit ở đới Sông Hồng, đới Phan Si Pang đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn sử dụng trong nông nghiệp (cải tạo đất trồng), trong lĩnh vực môi trường (làm nguyên liệu lọc sạch nước bị ô nhiễm), sản xuất vật liệu chịu nhiệt, cách nhiệt, cách âm, cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu. Vì vậy, việc đánh giá, thăm dò để khai thác sử dụng nguồn nguyên liệu này cần sớm được quan tâm để góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Công tác đánh giá quặng vermiculit có nguồn gốc phong hóa đới Sông Hồng và đới Phan Si Pan cần sử dụng các phương pháp địa chất truyền thống kết hợp với phương pháp đo sâu đối xứng là có hiệu quả tốt nhất.
 
VĂN LIỆU
[1] Dương Hữu Luật và nnk, 2003. Báo cáo kết quả đánh giá triển vọng quặng Felspat vùng Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
[2] Luke L.Y. Chang. Industrial mineralogy, materials, processes, and uses.
[3] Lưu Hữu Hùng và nnk, 1998. Báo cáo kết quả đo vẽ lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000, nhóm tờ Bảo Yên.
[4] Trần Ngọc Quân và nnk, 1992. Báo cáo kết quả tìm kiếm đánh giá mỏ vermiculit Núi Sõng.
[5] Trần Ngọc Thái và nnk, 2004. Báo cáo triển vọng và khả năng sử dụng vermiculit trên một số diện tích thuộc đới Sông Hồng và đới Phan Si Pan.
[6] Trịnh Quốc Hà và nnk, 2016.  Đánh giá quặng vermiculit khu Phố Ràng, Bảo Yên, tỉnh Lào Cai

NHỮNG NỘI DUNG KHÁC

Kỷ niệm 35 năm thành lập Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm 1978 - 2013
Hào khí Viêt Nam (Liên đoàn ĐỊa chất Xạ - Hiếm)
Văn nghệ Hội nghị Đại biểu Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm năm 2016
Phân tích mẫu trên thiết bị ORTEC GEM 30

Phân tích mẫu trên thiết bị ORTEC GEM 30

Hệ thống ICP-MS Agilent 7700x
Hệ thống ICP-MS Agilent 7700x
Nghiền mịn mẫu đất đá
Nghiền mịn mẫu đất đá

Hoạt động chuyên môn

Đơn vị trực thuộc

Đăng nhập

Liên kết website

Hình ảnh liên đoàn

Copyrights 2017 Geological Division for Radioactive And Rare Elements. All rights reserved.